Trang

Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

Chuyển nhượng dự án đầu tư tại Việt Nam

  


Làm sao để chuyển nhượng dự án đầu tư tại Việt Nam?

Theo quy định của pháp luật đầu tư hiện hành, nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư cho nhà đầu tư khác khi đáp ứng các điều kiện nhất định và thực hiện điều chỉnh dự án đầu tư theo quy định của pháp luật.

Điều kiện thực hiện:

·         Dự án đầu tư không thuộc trường hợp bị chấm dứt hoạt động theo quy định tại khoản 1, Điều 48 Luât đầu tư 2014;

·         Nhà đầu tư nhận chuyển nhượng phải đáp ứng được các điều kiện trong trường hợp chuyển nhượng dự án thuộc ngành nghề đầu tư có điều kiện;

·         Tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản trong trường hợp chuyển nhượng dự án gắn với chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

·         Đáp ứng các điều kiện quy định tại GCN đăng ký đầu tư hoặc theo quy định khác của pháp luật có liên quan nếu có

Chuẩn bị hồ sơ:

·         Văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư;

·         Báo cáo tình hình thực hiện dự án đầu tư đến thời điểm chuyển nhượng dự án đầu tư;

·         Hợp đồng chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc tài liệu khác có giá trị pháp lý tương đương;

·         Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân, bản sao GCN đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu khác có giá trị pháp lý tương đương đối với nhà đầu tư là tổ chức của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng;

·         Bản sao GCN đăng ký đầu tư hoặc văn bản quyết định chủ trương đầu tư (nếu có);

·         Bản sao hợp đồng BCC đối với dự án theo hình thức hợp đồng BCC;

·         Bản sao một trong các tài liệu sau của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng dự án đầu tư, báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư, cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ, cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính, bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư, tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư.

Trình tự, thủ tục:

·         Nhà đầu tư chuyển nhượng dự án đầu tư nộp hồ sơ tại Sở Kế hoạch và Đầu tư (hoặc Ban quản lý khu kinh tế);

·         Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với dự án đầu tư hoạt động theo GCN đăng ký đầu tư và không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư (hoặc 28 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh; 47 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương của Thủ tướng Chính phủ), cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư chuyển nhượng dự án.

Trước khi chuyển nhượng dự án, các nhà đầu tư cần nắm rõ về tình hình pháp lý ngoài các vấn đề về tài chính, nhân sự và các vấn đề trọng yếu khác của dự án, là đối tượng của chuyển nhượng.  Do vậy, để đảm bảo việc chuyển nhượng có hiệu quả, các nhà đẩu tư thường sử dụng công ty luật với các luật sư có chuyên môn cao để nghiên cứu thẩm định pháp lý (due diligence) toàn diện, đánh giá về các vấn đề liên quan tới các giấy tờ pháp lý của chủ sở hữu, góp vốn của cổ đông hay thành viên, tài sản hữu hình (quyền sử dụng đất, nhà xưởng và máy móc, thiết bị…) và tài sản vô hình (bao gồm các quyền về sở hữu công nghiệp), giấy phép, hợp đồng hay các giao dịch có giá trị lớn, thuế, và các rủi ro pháp lý như tranh chấp, kiện tụng khác.

Việc chuyển nhượng dự án đầu tư là thủ tục hành chính với cơ quan nhà nước chỉ thuận lợi khi các bên trong giao dịch chuyển nhượng đạt được các thỏa thuận, và trên thực tế , việc chuyển nhượng dự án đầu tư nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào quá trình thẩm định, đánh giá của các bên liên quan tới dự án.

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

Sự cần thiết của việc hòa giải thương mại trong thực hiện các hợp đồng giao dịch quốc tế

 

Theo báo cáo gần đây của World bank về chỉ số giải quyết tranh chấp hợp đồng, thời gian trung bình để giải quyết một vụ tranh chấp hợp đồng thương mại tại Tòa án là 400 ngày và phải trải qua 25 thủ tục tố tụng tại tòa.

Việc giải quyết tranh chấp ở Tòa án hiện nay còn rất nhiều vướng mắc liên quan đến việc giải quyết và thi hành án, việc có quá nhiều thủ tục và hiệu quả thi hành án chưa cao, điều này dẫn đến việc các bên tranh chấp trong hợp đồng thương mại mất nhiều thời gian và chi phí giải quyết. Vì vậy, việc lựa chọn giải quyết tranh chấp ở các Trung tâm hòa giải là điều cần thiết để giải quyết vấn đề này.

Hiện nay, các cơ quan liên quan cũng có những biện pháp tích cực để kêu gọi việc áp dụng các biện pháp hòa giải thương mại trong hợp đồng thương mại quốc tế, nhằm giải quyết hiệu quả, nhanh chóng hơn những tranh chấp trong thương mại quốc tế. Việc áp dụng giải quyết tranh chấp thương mại tại các Trung tâm hòa giải ở Việt Nam sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí giải quyết tranh chấp, Ngoài ra, việc giải quyết tranh chấp ở các Trung tâm hòa giải cũng sẽ giúp các bên giữ vững được uy tín, niềm tin của nhau trong việc giao dịch trong tương lai.

Tính tới tháng 8 năm 2019, ở Việt Nam có 7 Trung tâm hòa giải thương mại được Bộ Tư pháp cấp giấy phép thành lập, với đội ngũ hòa viên, luật sư được cấp chứng chỉ trong nước và quốc tế, có thể giải quyết những tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế, từ đó giúp cho các tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế có thể được giải quyết nhanh chóng, dễ dàng. Việc lựa chọn các trung tâm hòa giải trong việc giải quyết tranh chấp, sẽ giúp cho các bên tiết kiệm thời gian, chí phí và giữ được uy tín của mình trong việc kinh doanh sau này.

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Thị trường vận tải ở Việt Nam- Cơ hội đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài

  


Hiện nay, Việt Nam là quốc gia được đánh giá có nền kinh tế, chính trị ổn định, đang dần trở thành điểm đến đầu tư của nhiều nhà đầu tư trên thế giới. Bên cạnh đó, với mục tiêu trở thành một bộ phận của chuỗi cung ứng toàn cầu, vì vậy thị trường vận tải ở Việt Nam đang có nhu cầu phát triển mạnh, nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa của các doanh nghiệp.

Là một quốc gia giáp biển, Việt Nam được xem là nơi giao thương của các nước trong khu vực Đông Nam Á, châu Á và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Các phương thức vận tải phổ biến bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không và đường ống. Theo chiến lược được Chính phủ đặt ra tới năm 2030, các doanh nghiệp vận tải ở Việt Nam sẽ được phát triển với định hướng áp dụng mô hình quản trị tiên tiến, hiệu quả kinh doanh cao, có sức cạnh tranh, làm chủ thị trường vận tải trong nước, chiếm vai trò quan trọng trong vận tải xuất, nhập khẩu hàng hóa, từng bước vươn ra đầu tư kinh doanh có hiệu quả trên thị trường vận tải quốc tế, cụ thể như sau:

  1. Hoàn thành tái cơ cấu doanh nghiệp vận tải nhà nước theo hướng đẩy mạnh cổ phần hoá, giảm thiểu số lượng và tỷ lệ sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp vận tải, trừ trường hợp tại các đơn vị kinh doanh vận tải đảm bảo quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội.
  2. Tách biệt kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt với kinh doanh vận tải thành các doanh nghiệp độc lập, khẩn trương cổ phần hoá các doanh nghiệp vận tải và cung ứng dịch vụ hỗ trợ vận tải đường sắt.
  • Hình thành một số doanh nghiệp vận tải hàng hoá đa phương thức có quy mô lớn, có khả năng thực hiện các chuỗi vận tải hoàn chỉnh đường bộ - đường sắt - đường biển hoặc đường bộ - đường thuỷ - đường biển, đường bộ - đường hàng không; tăng cường kết nối dịch vụ vận tải giữa các phương thức thông qua việc kết nối hoạt động phân phối dịch vụ, đặc biệt ưu tiên phát triển mô hình bán vé liên thông giữa các phương thức vận tải hành khách.

Về việc thực hiện đầu tư trên lĩnh vực vận tải đối với nhà đầu tư nước ngoài, theo quy định tại Biểu cam kết dịch vụ WTO và EVFTA, các công ty vận tải biển nước ngoài có thể thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện các hoạt động bao gồm: (i) Bán và tiếp thị dịch vụ vận tải biển qua giao dịch trực tiếp với khách hàng, từ niêm yết giá tới lập chứng từ; (ii) Đại diện cho chủ hàng; (iii) Cung cấp các thông tin kinh doanh theo yêu cầu; (iv) Chuẩn bị tài liệu liên quan tới chứng từ vận tải bao gồm chứng từ hải quan hoặc các chứng từ khác liên quan đến xuất xứ và đặc tính của hàng vận chuyển; và (v) Cung cấp dịch vụ vận tải biển bao gồm cả dịch vụ vận tải nội địa bằng tàu mang cờ Việt Nam trong trường hợp cung cấp dịch vụ vận tải tích hợp; (vi) Thay mặt công ty tổ chức cho tàu vào cảng hoặc tiếp nhận hàng khi có yêu cầu; (vii) Đàm phán và ký hợp đồng vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa liên quan tới hàng hóa do công ty vận chuyển.

Với chiến lược phát triển và mở cửa thu hút nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam hi vọng sẽ có nhiều nhà đầu tư vận tải quốc tế thực hiện đầu tư, để không chỉ phát triển thị trường vận tải tại Việt Nam, mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư quốc tế.

 

 

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

Kinh doanh theo phương thức đa cấp có phải là lừa đảo không?

 

Bán hàng đa cấp là phương thức kinh doanh gì? Có phải lừa đảo không? Pháp luật quy định như thế nào về phương thức kinh doanh này?

Nghị định 40/2018/NĐ-CP về hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp, trong đó, điều 3 giải thích việc kinh doanh theo phương thức đa cấp như sau: “Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới”.

Như vậy, kinh doanh theo phương thức đa cấp là một phương thức kinh do
anh được pháp luật thừa nhận, không thể coi là lửa đảo, vậy vì sao nhiều người lại nghĩ nó là một phương thức lừa đảo? Pháp luật quy định thế nào về phương thức kinh doanh này?

Khoản 1 điều 4 nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định về đối tượng kinh doanh theo phương thức đa cấp là: “Hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp chỉ được thực hiện đối với hàng hóa. Mọi hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp với đối tượng không phải là hàng hóa đều bị cấm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".


Khoản 2 điều 4 nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định những hàng hoá không được kinh doanh theo phương thức đa cấp, bao gồm: “Hàng hóa là thuốc; trang thiết bị y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuc thú y thủy sản); thuc bảo vệ thực vật; hóa chất, chế phm diệt côn trùng, diệt khuẩn hạn chế sử dụng và cấm sử dụng trong lĩnh vực gia dng và y tế và các loại hóa chất nguy hiểm; Sản phẩm nội dung thông tin số”.

Khoản 1 điều 5 Nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định những hành vi bị cấm trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp là đối với doanh nghiệp bao gồm: “Yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc nộp một khoản tiền nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp; Yêu cầu người khác phải mua một số lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp; Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp mà không phải từ việc mua, bán hàng hóa của người được giới thiệu đó; Từ chi chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng; Cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; Cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn về tính năng, công dụng của hàng hóa hoặc hoạt động của doanh nghiệp thông qua báo cáo viên, đào tạo viên tại hội nghị, hội thảo, đào tạo hoặc thông qua tài liệu của doanh nghiệp; Dutrì nhiều hơn một hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, vị trí kinh doanh đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp; Thực hiện khuyến mại sử dụng mạng lưới gồm nhiều cấp, nhiều nhánh mà trong đó người tham gia chương trình khuyến mại có nhiều hơn một vị trí, mã số hoặc các hình thức tương đương khác; Tổ chức các hoạt động trung gian thương mại theo quy định của pháp luật thương mại nhằm phục vụ cho việc duy trì, mở rộng và phát triển mạng lưới bán hàng đa cấp; Tiếp nhận hoặc chấp nhận đơn hoặc bất kỳ hình thức văn bản nào khác của người tham gia bán hàng đa cấp, trong đó, người tham gia bán hàng đa cấp tuyên bố từ bỏ một phần hoặc toàn bộ các quyn của mình theo quy định của Nghị định này hoặc cho phép doanh nghiệp không phải thực hiện nghĩa vụ đối với người tham gia bán hàng đa cấp theo quy định của Nghị định này; Kinh doanh theo phương thức đa cấp đối với đối tượng không được phép theo quy định tại Điều 4 Nghị định này; Không sử dụng hệ thống quản lý người tham gia bán hàng đa cấp đã đăng ký với cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp để quản lý người tham gia bán hàng đa cấp; Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác, trừ trường hợp mua lại, hp nht hoặc sáp nhập doanh nghiệp.

Khoản 2 điều 5 Nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định những hành vi bị cấm trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp là đối với cá nhân bao gồm: Cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính năng, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp; Tổ chức hội thảo, hội nghị, đào tạo về kinh doanh theo phương thức đa cấp khi chưa được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản; Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội, nghề nghiệp để khuyến khích, yêu cầu, lôi kéo, dụ dỗ người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp; Thực hiện hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương nơi doanh nghiệp chưa được cấp xác nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương; Và hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;”

Do phương thức bán hàng đa cấp ngày càng phổ biến, rất nhiều cá nhân, tổ chức lấy vỏ bọc là công ty đa cấp để vi phạm pháp luật, thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm, do đó nhiều người hiểu lầm và mặc định đa cấp là một dạng lừa đảo. Việc thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm là hành vi bán hàng đa cấp bất chính và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Tóm lại, xét về bản chất, bán hàng đa cấp là một phương thức kinh doanh, không phải là lừa đảo. Tuy nhiên, trên thực tế, cá nhân và doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này rất dễ có những hành vi sai phạm, điều này khiến mô hình kinh doanh đa cấp trở nên xấu xa trong mắt nhiều người. Hiện nay, pháp luật quản lý rất chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh này, nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được tư vấn hoặc hỗ trợ chi tiết.

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

Những đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp

  


Tổ chức và thành lập Doanh nghiệp là quyền tự do của mỗi cá nhân, tổ chức, nhưng có phải mọi có nhân, tổ chức đều có thể sử dụng quyền này hay không? Nếu không, những chủ thể nào sẽ bị hạn chế?

Khoản 2 điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về những tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng. Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh; Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự”.

Sở dĩ quy định này nhằm mang lại công bằng và hạn chế tối đa tiêu cực trong kinh doanh. Cán bộ, công chức, viên chức là người làm việc cho hà nước, một số người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan Nhà nước và là người nắm giữ những chức trách, nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước, họ được hưởng lương theo chế độ chính sách riêng của Nhà nước do vậy phải có trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình; ngoài ra pháp luật quy định hạn chế họ tham gia vào các hoạt động thành lập và quản lý doanh nghiệp để ngăn ngừa tình trạng tham nhũng có thể xảy ra, tình trạng này có thể do sự không minh bạch trong các hoạt động kinh doanh đan xen với việc thực hiện nhiệm vụ của mình trong cơ quan nhà nước, sự xao nhãng nhiệm vụ do tư lợi cá nhân, thậm chí có thể dẫn đến sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Tóm lại, tự do kinh doanh là quyền của mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng có quyền đó, pháp luật hạn chế một số người tham gia vào việc thành lập và quản lý doanh nghiệp.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về những đối tượng không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công để  ty luật để được tư vấn hoặc hỗ trợ chi tiết.


Thứ Hai, 19 tháng 4, 2021

Giải quyết tranh chấp khi ly hôn đơn phương và quyền thăm con sau ly hôn

  

Bài viết  xin  đưa ra một số tranh chấp điển hình trong quan hệ hôn nhân và gia đình và hướng giải quyết theo quy định của pháp luật.



1. Yêu cầu ly hôn đơn phương.

Ly hôn là quyền của vợ, chồng. Các trường hợp ly hôn có thể là ly hôn thuận tình hoặc ly hôn đơn phương. Xảy ra mâu thuẫn trong vấn đề ly hôn thường rơi vào trường hợp ly hôn đơn phương, khi có 1 bên vợ/chồng đưa yêu cầu ly hôn đến Tòa án nhưng bên còn lại không đồng ý.

Luật hôn nhân và gia đình quy định về ly hôn đơn phương như sau: “khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Khi một bên vợ/chồng đưa yêu cầu ly hôn đơn phương đến Tòa án, theo nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự, bên có yêu cầu ly hôn phải cung cấp các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu ly hôn của mình. Đó là các tài liệu chứng minh cho một trong các hành vi sau:

– Bạo lực gia đình;

– Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng;

– Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng

– Đời sống chung không thể kéo dài;

– Mục đích của hôn nhân không đạt được.

Trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao từng đưa ra hướng dẫn chi tiết cho trường hợp ly hôn đơn phương như sau:

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Hướng dẫn này đã được các Tòa án áp dụng trong giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương từ năm 2000 đến nay và vẫn được áp dụng cho đến khi có hướng dẫn mới nhất.

Trên thực tế việc đưa ra đầy đủ các chứng cứ chứng minh cho các căn cứ nêu trên là rất khó, bởi trong quan hệ hôn nhân, không có cặp vợ chồng nào lại nghĩ đến thời điểm ly hôn để thu thập chứng cứ. Hầu hết khi đưa đơn ly hôn đến Tòa án, bên có yêu cầu mới được Tòa án hướng dẫn thu thập chứng cứ, dẫn đến thời gian giải quyết kéo dài.

2. Quyền thăm nom con sau ly hôn.

Khi quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chấm dứt, việc nuôi dưỡng con cái phải được giao cho một bên thực hiện. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và cũng là nghĩa vụ thăm nom con chung. Tuy nhiên trên thực tế, đã xảy ra không ít trường hợp cha/mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng con không thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ trong việc thăm nom con, do sự cản trở, gây khó khăn từ người đang trực tiếp nuôi dưỡng con.

Về mặt quy định của pháp luật, hành vi cản trở quyền thăm nom con của cha/mẹ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình: “phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu, giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án, giữa vợ và chồng, giữa anh, chị, em với nhau”.

Theo quy định này khi xảy ra hành vi cản trở quyền thăm nom con của cha/mẹ, người bị cản trở có quyền yêu cầu chính quyền địa phương thực hiện xử phạt vi phạm hành chính, buộc chấm dứt hành vi vi phạm.

Mặt khác, người bị cản trở thực hiện quyền thăm nom con cũng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền buộc người đang trực tiếp nuôi dưỡng con phải chấm dứt hành vi vi phạm, đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho người không trực tiếp nuôi dưỡng con.

Hãy liên hệ công ty luật  để được tư vấn.



Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc về cơ quan nào?

  


Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc về cơ quan nào ? Khi có tranh chấp về đất đai thì kiện ở đâu?

Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Tranh chấp đất đai bao gồm tất cả những tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất…Việc giải quyết tranh chấp đất đai tuân theo các quy định của Luật đất đai 2013 về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

Tranh chấp đất đai trước hết phải thông qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp hòa giải không thành thì được giải quyết thông qua Tòa án hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

Đối với cơ quan giải quyết tranh chấp đất đai là Tòa án thì theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013, khi đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất sẽ do Tòa án nhân dân nơi có đất giải quyết. 

Đối với cơ quan giải quyết tranh chấp là Ủy ban nhân dân sẽ được áp dụng trong trường hợp đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013. Cụ thể với những tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Đối với trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Nếu các bên không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Quyết định giải quyết tranh chấp của cơ quan này có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định mới nhất. Nếu bạn còn bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được tư vấn hoặc thực hiện dịch vụ soạn Đơn khiếu nại về tranh chấp quyền sử dụng đất.